Sau khi nhận được Công văn số 7366/VPCP-V.I của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình giao Bộ Xây dựng kiểm tra, xác minh, xem xét, giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Hoàng Việt, ông Lý Văn Náo và bà Nguyễn Thị Liễu đối với quyết định giải quyết khiếu nại của UBND tỉnh Kiên Giang liên quan đến nhà đất trưng dụng, trưng mua theo quy định của pháp luật, Bộ Xây dựng đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Xây dựng giải quyết khiếu nại liên quan đến nhà đất trưng dụng, trưng mua theo quy định của pháp luật

Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Bộ Xây dựng đã thành lập tổ công tác thu thập hồ sơ, xác minh thực tế, tiếp dân và trao đổi, thống nhất hướng giải quyết với UBND tỉnh Kiên Giang.

Theo đó, Bộ Xây dựng kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ như sau: Đối với trường hợp ông Lý Văn Náo khiếu nại đòi lại nhà, đất tại ấp Vĩnh Đông I, thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận.

Nhà đất tại ấp Vĩnh Đông I nguyên do ông Lý Tuyền, cha của ông Lý Văn Náo mua từ năm 1966. Theo đơn và theo trình bày của ông Náo, trên diện tích đất 1.995m2 có cất 2 dãy nhà: Dãy thứ nhất chiều ngang 17m, chiều dài 17m, gia đình ông sử dụng một phần để ở; phần còn lại làm kho chứa lúa; dãy thứ hai chiều ngang 21m, chiều dài 35,5m làm xưởng mộc (theo họa đồ xin phép xây dựng năm 1972 thì đây là khu thương mại). Sau giải phóng 1975, gia đình ông Náo sử dụng phần nhà ở, các diện tích còn lại do Nhà nước quản lý, sử dụng.

Theo Quyết định số 2178/QĐ-CT ngày 08/11/2000UBND của UBND tỉnh Kiên Giang, năm 1980, “Nhà nước quy hoạch trưng dụng diện tích 5.655,08m2 đất để xây dựng kho lương thực huyện Vĩnh Thuận”, trong đó có diện tích nhà đất của gia đình ông Náo; “khi trưng dụng, Nhà nước có giải quyết chi phí di dời” cho một số hộ. Gia đình ông Náo không có tên trong danh sách nhận tiền di dời, nhưng theo trình bày của ông Náo, thì năm 1981, gia đình ông được nhận hỗ trợ 20 bao xi măng và 2m3 gỗ.

Sau khi Nhà nước thu hồi phần diện tích nhà ở, gia đình ông Náo chuyển đi nơi khác và tự tạo lập chỗ ở mới.

Năm 1991, kho lương thực giải thể. Ngày 31/12/1998, UBND tỉnh Kiên Giang có Quyết định số 4029/QĐ-UB phê duyệt chi tiết quy hoạch trung tâm thị xã Vĩnh Thuận, trong đó diện tích 5.655,08m2 nói trên được quy hoạch xây dựng công viên cây xanh.

Ngày 14/01/2003, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 129/QĐ-UB thu hồi và giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.948m2 (thuộc diện tích 5.655,08m2 nói trên, trong đó có diện tích 1.995m2 trước đây của của gia đình ông Náo) cho Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề để xây dựng trường học (nay là Trung tâm giáo dục thường xuyên Vĩnh Thuận), tuy nhiên không có Quyết định điều chỉnh, hoặc điều chỉnh cục bộ đồ án đã được phê duyệt (đất công viên cây xanh).

Ông Lý Văn Náo, đại diện các đồng thừa kế, có đơn đòi lại toàn bộ nhà đất mà Nhà nước đã quản lý của gia đình ông.

Ngày 23/8/2012, UBND huyện Vĩnh Thuận ban hành Quyết định số 3153/QĐ-UBND bác đơn của ông Náo.

Ông Náo tiếp khiếu. Ngày 17/01/2013, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 193/QĐ-UBND công nhận quyết định của UBND huyện Vĩnh Thuận.

Hiên nay, khu đất diện tích 5.655,08m2 do Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, trụ sở khu phố và 03 hộ dân sử dụng. Theo Quyết định số 1272/QĐ-UBND ngày 22/6/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chung khu trung tâm thị trấn Vĩnh Thuận, tỷ lệ 1/2000, khu đất này vẫn được quy hoạch là công viên cây xanh .

Ông Náo có đơn khiếu nại đòi lại nhà đất gửi Thủ tướng Chính phủ.

Theo Bộ Xây dựng, Nhà nước chưa có văn bản quản lý nhà, đất tại ấp Vĩnh Đông I của gia đình ông Náo, nhưng thực tế Nhà nước đã quản lý, sử dụng phần diện tích nhà kho từ sau giải phóng và sử dụng phần diện tích nhà ở từ năm 1980 đến nay.

Căn cứ quy định tại Điều 1, Nghị quyết số 23/2003/NQ-QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội thì việc gia đình ông Náo đòi lại nhà, đất này là không có cơ sở để giải quyết trả lại.

Việc UBND huyện Vĩnh Thuận và UBND tỉnh Kiên Giang ban hành quyết định bác đơn đòi nhà, đất của ông Náo là đúng quy định của Nghị Quyết 23/2003/NQ-QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội.

Phần diện tích trước đây gia đình ông Náo sử dụng để ở tại ấp Vĩnh Đông I chưa có văn bản quản lý của Nhà nước; năm 1980, khi thực hiện việc “quy hoạch trưng dụng” để mở rộng kho lương thực của huyện, thực tế Nhà nước mới quản lý, bố trí sử dụng đối với phần diện tích này; gia đình ông Náo không thuộc đối tượng phải thực hiện chính sách quản lý nhà, đất.

Vì vậy, để việc giải quyết có lý, có tình, UBND tỉnh Kiên Giang cần căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, hỗ trợ về chỗ ở cho gia đình ông Náo, đại diện các thừa kế của ông Lý Văn Tuyền.

Đối với trường hợp ông Nguyễn Hoàng Việt khiếu nại đòi lại nhà, đất tại ấp Vĩnh Đông I, thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận.

Nhà, đất mà ông Nguyễn Hoàng Việt đang xin lại cũng nằm trong diện tích 5.655,08m2 đất mà Nhà nước đã thu hồi để xây dựng kho lương thực huyện Vĩnh Thuận và nay do Trung tâm giáo dục thường xuyên Vĩnh Thuận, trụ sở khu phố 3 và 03 hộ dân sử dụng.

Nhà, đất này của gia đình ông Việt có tình trạng pháp lý tương tự trường hợp nhà, đất nói trên của gia đình ông Lý Văn Náo: Từ việc có một phần diện tích sử dụng để ở, phần còn lại làm nhà kho đến quá trình Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng từ sau giải phóng đến nay. Gia đình ông Việt không có tên trong danh sách được hỗ trợ tiền di dời, thực tế cũng không được nhận hỗ trợ xi măng, gỗ như các hộ khác.

Theo Bộ Xây dựng, do có tình trạng pháp lý tương tự, nên hướng giải quyết đối với khiếu nại đòi lại nhà, đất của ông Nguyễn Hoàng Việt cũng tương tự như hướng giải quyết đối với trường hợp ông Nguyễn Văn Náo.

Khiếu nại của ông Nguyễn Hoàng Việt chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nên UBND tỉnh Kiên Giang cần ban hành quyết định giải quyết khiếu nại của ông Việt theo đúng quy định của Luật Khiếu nại và các văn bản pháp luật có liên quan.

Trong đó, lưu ý đến phần diện tích trước đây gia đình ông Việt sử dụng để ở, nay không có cơ sở pháp luật để trả lại để xem xét hỗ trợ về chỗ ở cho gia đình ông Việt theo điều kiện thực tế của địa phương.

Đối với trường hợp ông Nguyễn Hoàng Việt khiếu nại Quyết định số 179/2003/QĐ-UB ngày 26/3/2003 của UBND huyện Vĩnh Thuận

Theo đơn của ông Việt: Năm 1972, bà Lý Thị Lành, mẹ ông Việt mua thửa đất của ông Nguyễn Phước Giàu, diện tích 672m2 nằm trong khuôn viên 1.243m2 tọa lạc tại tổ 7, ấp Vĩnh Đông I; bà Lành cất trên đất này một căn nhà diện tích 120m2 để bán xăng dầu; năm 1975, Nhà nước trưng dụng nhà đất này làm trạm kiểm soát thuế.

Hiện nay, nhà đất nói trên do trạm y tế Sao Biển thị trấn Vĩnh Thuận sử dụng.

Mặc dù trong hồ sơ của ông Việt có Quyết định số 179/QĐ-UBND ngày 26/3/2003 của UBND huyện Vĩnh Thuận bác đơn đòi lại nhà, đất của ông Việt, tuy nhiên, UBND huyện Vĩnh Thuận không cung cấp được các hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại của ông Việt, quá trình Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng nhà đất nói trên cũng như các tài liệu liên quan đến việc cấp, giao đất cho trạm y tế Sao Biển xây dựng công trình. Các cơ quan chức năng khác của tỉnh cũng không có các hồ sơ liên quan.

Theo Bộ Xây dựng, do chưa có hồ sơ, nên không có cơ sở để xem xét, đề xuất hướng giải quyết đối với trường hợp này.

Vì vụ việc đã có quyết định giải quyết lần đầu của UBND huyện Vĩnh Thuận, nên UBND tỉnh Kiên Giang cần chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh kiểm tra, xem xét toàn bộ vụ việc và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của ông Việt theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với trường hợp bà Nguyễn Thị Liễu khiếu nại đòi lại 1/2 giá trị nhà máy xay lúa và quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp Đông Hưng, thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp.

Nhà máy xay lúa trước mang tên Vạn Phước Hưng, diện tích đất 6.515,8m2 tại ấp Đông Hưng nguyên thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Vân (mẹ bà Nguyễn Thị Liễu).

Theo trình bày của bà Liễu: Sau giải phóng 1975, gia đình bà nhận xay lúa gia công cho Nhà nước. Khoảng năm 1978, do làm ăn khó khăn vì không được phép gia công cho tư nhân cộng với hoàn cảnh gia đình (bà Vân phải đi chăm chồng bị bệnh ở địa phương khác; chồng bà Vân tham gia hoạt động cách mạng), nên bà Vân giao nhà máy cho Phòng Lương thực huyện sử dụng.

Năm 1979, bà Vân về xin lấy lại nhà máy nhưng không được trả lại. Năm 1985, Nhà nước đồng ý mua nhà máy của bà Vân và đã thanh toán trước cho bà Vân 1/2 trị giá nhà máy là 81 triệu đồng.

Theo báo cáo số 13028/UBND-TCD ngày 05/10/2018 của UBND tỉnh Kiên Giang và các tài liệu kèm theo thì: Sau khi Nhà nước quản lý, nhà máy trên do Phòng Lương thực huyện Tân Hiệp sử dụng. Năm 1995, Phòng quản lý tài sản Nhà nước – Sở Tài chính vật giá có biên bản bàn giao nhà máy (còn gọi là kho III) cho Cty thương nghiệp tổng hợp quản lý.

Năm 2003, UBND tỉnh có Quyết định giao toàn bộ khu đất, diện tích 6.512m2, cho Cty thương mại Kiên Giang thuê để làm nhà máy chế biến gạo xuất khẩu.

Năm 2008, UBND tỉnh có Quyết định thu hồi và giao khu đất nói trên cho Cty CP kinh doanh nông sản Kiên Giang thuê sử dụng vào mục đích đất cơ sở sản xuất kinh doanh.

Bà Nguyễn Thị Liễu, được bà Vân ủy quyền, có đơn đòi bồi thường quyền sử dụng đất (5000m2 trong số 6.512m2) và 1/2 giá trị nhà máy xay xát nói trên.

Với lý do: Ngày 10/12/1986, ông Trần Văn Qui (tự Chín Quằn), đại diện Phòng Lương thực huyện và bà Vân đã làm tờ thỏa thuận về việc đền bù nhà máy.

Nội dung thỏa thuận: “Đề nghị cấp tỉnh hoàn trả cấu trúc thiết bị, máy móc, nhà kho 1/2 đoạn trước. Còn phần đất 5000m2 cất nhà máy sau 15 năm nếu Nhà nước có chủ trương trả lại thì sẽ trả theo giá cả thực tế”.

Thanh tra tỉnh và Thanh tra Sở Xây dựng đã có các biên bản làm việc vào các năm 2005, 2007, 2008 với các cá nhân liên quan (như Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn – Nguyên Phó phòng Lương thực huyện, Chủ tịch UBND thị trấn Tân Hiệp – Nguyên kế toán Phòng Lương thực huyện, Tổng Giám đốc Cty TNHH MTV Du lịch thương mại Kiên Giang – Nguyên Phó Giám đốc Cty kinh doanh lương thực, nguyên Kế toán trưởng Cty kinh doanh lương thực, nguyên Chủ tịch UBND huyện Tân Hiệp…), theo đó, có việc Nhà nước mua lại nhà máy và trả tiền cho bà Vân.

Ngày 23/6/2009, UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 1459/QĐ-UBND, nội dung: Không thừa nhận khiếu nại của bà Liễu đòi bồi thường giá trị nhà máy và quyền sử dụng đất; xem xét, giải quyết 01 nền đất ở cho gia đình bà Liễu, không thu tiền sử dụng đất. Tại Quyết định này, UBND tỉnh xác định năm 1986, Nhà nước đã chi trả cho gia đình bà Vân 81 triệu đồng.

Bà Liễu khiếu nại. Ngày 03/3/2011, UBND tỉnh Kiên Giang có Công văn số 149/UBND-NCPC chỉ đạo Sở Xây dựng tiếp tục thực hiện Quyết định nói trên của tỉnh, giải quyết giao cấp 01 nền đất ở cho gia đình bà Liễu trong phạm vi địa giới hành chính của TP Rạch Giá, không thu tiền sử dụng đất, đồng thời vận động Cty TNHH MTV Du lịch – Thương mại Kiên Giang hỗ trợ cho gia đình bà Liễu 100.000.000 đồng.

Bà Liễu không đồng ý và có đơn khiếu nại gửi Thủ tướng Chính phủ.

Theo Bộ Xây dựng, việc UBND tỉnh Kiên Giang không thừa nhận khiếu nại đòi bồi thường giá trị nhà máy và quyền sử dụng đất của bà Liễu; xem xét, giải quyết cho bà Liễu 01 nền đất ở không thu tiền sử dụng đất là có cơ sở pháp luật, hợp đạo lý và khả thi, bởi lẽ: Các Biên bản làm việc của Thanh tra tỉnh và Thanh tra Sở Xây dựng thể hiện có sự thỏa thuận bồi thường nhà máy giữa ông Trần Văn Qui và bà Vân, tuy nhiên, tờ thỏa thuận ngày 10/12/1986 không đủ cơ sở pháp lý để xác định bà Vân mới nhận bồi thường 1/2 giá trị của nhà máy.

Các quy định của pháp luật liên quan đến việc Nhà nước trưng mua, mua lại nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất chỉ quy định tính giá trị nhà, còn “đối với đất, vì là tài sản quốc gia, không định giá”.

Gia đình bà Vân là gia đình có công với cách mạng (chồng bà Vân tham gia hoạt động cách mạng, giải phóng miền Nam), không thuộc diện phải thực hiện các chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất.

Trước năm 1986 (thời điểm được coi là Nhà nước mua lại nhà máy của gia đình bà Vân), Nhà nước không có văn bản quản lý, bố trí sử dụng đối với nhà máy này.

Các cơ quan Nhà nước không có hoặc không lưu giữ được các tài liệu về việc mua lại nhà máy, không xác định được việc chi trả số tiền 81 triệu đồng cho bà Vân là thanh toán toàn bộ hay 1/2 giá trị nhà máy.

Vì vậy, nay không có cơ sở để áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các thừa kế của bà Vân.

Qua kiểm tra thấy rằng việc quản lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước tại các địa chỉ có khiếu nại nêu trên còn chưa thống nhất đồng bộ trong việc giao đất, cho thuê đất, quy hoạch xây dựng, miễn tiền cho thuê đất, xác định giá trị nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước khi cổ phần hóa doanh ngiệp.

Trên cơ sở hồ sơ tài liệu thu thập được, kết quả làm việc với các cơ quan liên quan và các nội dung đã thống nhất giữa Tổ công tác của Bộ Xây dựng và UBND tỉnh Kiên Giang, Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

Đối với khiếu nại của ông Lý Văn Náo đòi lại nhà, đất tại ấp Vĩnh Đông I, thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận: Giao UBND tỉnh Kiên Giang căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, hỗ trợ về chỗ ở cho gia đình ông Lý Văn Náo.

Đối với khiếu nại của ông Nguyễn Hoàng Việt đòi lại nhà, đất tại ấp Vĩnh Đông I, thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận: Giao UBND tỉnh Kiên Giang ban hành quyết định giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Hoàng Việt theo đúng quy định của Luật Khiếu nại và các văn bản pháp luật có liên quan, trong đó, có nội dung xem xét hỗ trợ về chỗ ở cho gia đình ông Nguyễn Hoàng Việt theo điều kiện thực tế của địa phương.

Đối với đơn của ông Nguyễn Hoàng Việt khiếu nại Quyết định số 179/2003/QĐ-UB ngày 26/3/2003 của UND huyện Vĩnh Thuận: Giao UBND tỉnh Kiên Giang kiểm tra, xem xét toàn bộ vụ việc và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của ông Việt theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liễu đòi lại 1/2 giá trị nhà máy xay lúa và quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp Đông Hưng, thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp: Giao UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện Quyết định số 1459/QĐ-UBND ngày 23/6/2009 và nội dung công văn số 149/UBND-NCPC ngày 03/3/2011 của UBND tỉnh.

Về quản lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước: Giao UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát việc quản lý, sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, việc thực hiện quy hoạch xây dựng được duyệt, quản lý đất đai, giao đất, cấp đất cho tổ chức cá nhân tại các địa chỉ có khiếu nại nói trên; việc xác định giá trị nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước khi cổ phần hoá doanh nghiệp; cho thuê đất và miễn tiền thuê đất cho doanh nghiệp khi cho thuê đất thuộc sở hữu Nhà nước tại phần đất bà Liễu khiếu nại để khắc phục các tồn tại, sai sót (nếu có) theo quy định pháp luật.

Khánh An